Europa có cấu trúc rất giống với 4 hành tinh phía trong của hệ Mặt Trời (bao gồm Trái Đất), tức là có cấu tạo chủ yếu từ đá silicate. Phần vỏ ngoài được cấu tạo từ băng đá ở phía trên và lớp chất lỏng ở phía dưới, dày cỡ khoảng 100 km. Những dữ liệu tàu vũ trụ Galileo thu được về từ trường của Europa cho thấy vệ tinh này có một từ trường cảm ứng với cảm ứng từ của sao Mộc. Điều đó cho thấy bên dưới lớp bề mặt của Europa phải có một lớp chất dẫn điện có thể là lớp nước muối dày. Lớp vỏ băng trên cùng ước tính đã bị trượt đi một góc 80°, do đó, không thể nào được gắn chặt với lớp vật chất phía trong. Sự trượt đi ấy chỉ có thể giải thích là quá trình trượt trên lớp chất lỏng.[19] Lõi của Europa có thể có cấu tạo từ sắt.[20]
Với địa hình rất bằng phẳng, Europa là một trong những thiên thể có vỏ ngoài mịn nhất trong hệ Mặt Trời.[21] Những đường rãnh ngang dọc trên bề mặt Europa chủ yếu là những dải màu có độ phản xạ khác với các vùng xung quanh chứ không phải do những lồi lõm trên bề mặt Europa tạo thành. Có rất ít những miệng hố thiên thạch do những hoạt động địa chất của Europa vẫn rất mạnh mẽ.[22][23] Bề mặt băng của Europa khiến cho nó phản xạ rất mạnh, lên tới 0.64, một trong những vệ tinh phản xạ mạnh nhất trong hệ Mặt Trời[24][23] (so với các vệ tinh khác của sao Mộc, Callisto là 0.22, Ganymede là 0.43 và Io là 0.63). Bề mặt Europa rất trẻ và hoạt động. Dựa trên mật độ những vụ bắn phá thiên thạch trong hệ Mặt Trời, có thể thấy tuổi của bề mặt Europa từ 20 đến 180 triệu năm.[25] Cynthia Phillips, một chuyên gia nghiên cứu Europa, nói rằng không có sự đồng tình trong giới khoa học giữa những cách giải thích trái ngược nhau về bề mặt Europa.[26]
Ảnh ghép từ các bức ảnh của Galileo cho thấy những hoạt động địa chất gần đây của Europa đã tạo ra những đường rãnh, hố, vòm và đám hỗn loạn Conamara
Đặc điểm bề mặt hấp dẫn và lý thú nhất của Europa là sự xuất hiện của rất nhiều những vệt tối màu đan chéo vào nhau trên toàn bộ vệ tinh, theo tiếng Latinh gọi là lineae (tiếng Anh là lines: đường). Những phân tích kĩ lưỡng cho thấy lớp vỏ của Europa, cả 2 bên của rãnh đứt gãy, đang di chuyển tương đối với nhau. Những rãnh lớn có thể rộng tới 20 km, rìa của rãnh tối màu, khuếch tán ánh sáng mạnh, có những nét kẻ đều đặn. Trung tâm của rãnh là vệt sáng màu hơn.[27]

Ảnh chụp Europa với màu sắc khá chân thực do tàu Galileo cung cấp. Có thể thấy rõ những đường rãnh trên bề mặt của nó
Các cấu trúc khác có thể kể đến trên bề mặt Europa là những vết lenticulae có hình tròn hay hình elip (lenticulae theo tiếng Latinh nghĩa là vết tàn nhang). Có một số trong chúng giống như những ngọn đồi hình vòm, một số là các hố lõm và một số là những điểm mịn tối màu. Một số cái khác có cấu trúc gồ ghề lộn xộn. Các vết hình vòm có thể được hình thành khi lớp vỏ của vệ tinh bị các lực tác động đẩy trồi lên.[31]
Ảnh chụp đám hỗn loạn Conamara, băng kết rộng tới 10 km. Vùng màu trắng thể hiện khu vực xung quanh miệng hố Pwyll

Ảnh chụp đám hỗn loạn Conamara cho thấy những ngọn núi khá cao và lởm chởm xen kẽ với những vùng bằng phẳng.
19 ^ Cowen, Ron. “A Shifty Moon”, Science News, 7 tháng 6 năm 2008.
20 ^ a b Kivelson, M. G.; et al. (2000). “Galileo Magnetometer Measurements: A Stronger Case for a Subsurface Ocean at Europa”. Science 289 (5483): 1340–1343. doi:10.1126/science.289.5483.1340. PMID 10958778.
21 ^ a b “Europa: Another Water World?”. Project Galileo: Moons and Rings of Jupiter. NASA, Jet Propulsion Laboratory (2001). Truy cập 9 tháng 8 năm 2007.
22 ^ Arnett, B.; Europa (November 7, 1996)
23 ^ a b Hamilton, C. J.. “Jupiter's Moon Europa”.
24 ^ “Europa, a Continuing Story of Discovery”. Project Galileo. NASA, Jet Propulsion Laboratory. Truy cập 9 tháng 8 năm 2007.
25 ^ a b Schenk, P. M.; Chapman, C. R.; Zahnle, K.; Moore, J. M.; Chapter 18: Ages and Interiors: the Cratering Record of the Galilean Satellites, in Jupiter: The Planet, Satellites and Magnetosphere, Cambridge University Press, 2004
26 ^ “High Tide on Europa”. Astrobiology Magazine. astrobio.net (2007). Truy cập 20 tháng 10 năm 2007.
27 ^ P. E. Geissler, R. Greenberg et al. (1998). “Evolution of Lineaments on Europa: Clues from Galileo Multispectral Imaging Observations”. Truy cập 20 tháng 12 năm 2007.
28 ^ Patricio H. Figueredo and Ronald Greeley (2003). “Resurfacing history of Europa from pole-to-pole geological mapping”. Truy cập 20 tháng 12 năm 2007.
29 ^ T.A. Hurford, A.R. Sarid and R. Greenberg (2006). “Cycloidal cracks on Europa: Improved modeling and non-synchronous rotation implications”. Truy cập 20 tháng 12 năm 2007.
30 ^ Kattenhorn, Simon A. (2002). “Nonsynchronous Rotation Evidence and Fracture History in the Bright Plains Region, Europa”. Icarus 157: 490–506. doi:10.1006/icar.2002.6825. http://adsabs.harvard.edu/abs/2002Icar..157..490K.
31 ^ a b Christophe Sotin, James W. Head III and Gabriel Tobie (2001). “Europa: Tidal heating of upwelling thermal plumes and the origin of lenticulae and chaos melting” (PDF). Truy cập 20 tháng 12 năm 2007.
32 ^ Jason C. Goodman, Geoffrey C. Collins, John Marshall, Raymond T. Pierrehumbert. “Hydrothermal Plume Dynamics on Europa: Implications for Chaos Formation” (PDF). Truy cập 20 tháng 12 năm 2007.
Nguồn: Wikipedia Tiếng Việt
- 05/09/2009 00:00 - Sao Băng
- 09/07/2009 00:00 - Europa - Vệ tinh "Quý tộc" của Sao Mộc - Phần 6: Thám hiểm Europa
- 07/07/2009 01:43 - Nguồn gốc của oxy trên Trái Đất
- 07/07/2009 00:00 - Europa - Vệ tinh "Quý tộc" của Sao Mộc - Phần 5: Khả năng tồn tại sự sống
- 05/07/2009 00:00 - Europa - Vệ tinh "Quý tộc" của Sao Mộc - Phần 4: Đại dương và Khí quyển
- 01/07/2009 15:17 - Europa - Vệ tinh "Quý tộc" của Sao Mộc - Phần 2: Quá trình phát hiện và tên gọi
- 01/07/2009 15:11 - Europa - Vệ tinh "Quý tộc" của Sao Mộc - Phần 1: Các thông số chính
- 18/06/2009 19:00 - Vành đai Sao Thổ-Những điều cần biết - Phần 4: Các khu vực và cấu trúc của các vành đai
- 18/06/2009 18:49 - Vành đai Sao Thổ-Những điều cần biết - Phần 3: Sự Hình thành
- 13/06/2009 00:00 - Vành đai Sao Thổ-Những điều cần biết - Phần 2: Tính chất vật lý





















